Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2016

Những điều cần biết về lupus ban đỏ hệ thống.

Bệnh lupus ban đỏ hệ thống và những điều cần biết
Lupus ban đỏ hệ thống là bệnh tự miễn khá phổ biến gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe nhưng hầu hết mọi người vẫn còn khá mơ hồ về căn bệnh này. Dưới đây là những thông tin về bệnh lupus ban đỏ hệ thống và những điều cần biết.

Bệnh lupus ban đỏ hệ thống là gì?
benh-lupus-ban-do-he-thong
Bệnh lupus ban đỏ là bệnh thường gặp gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người bệnh.
Lupus ban đỏ hệ thống là bệnh tự miễn có tổn thương đa hệ thống được đặc trưng bởi sự có mặt của kháng thể kháng nhân và nhiều  tự kháng thể khác. Lupus ban đỏ hệ thống là bệnh khá phổ biến thường xảy ra ở nữ giới nhiều hơn với tỷ lệ nữ/nam là 9/1.

Biểu hiện của bệnh lupus ban đỏ hệ thống là gì?
Các triệu chứng của lupus ban đỏ hệ thống có thể xuất hiện đột ngột hoặc từ từ sau nhiều tháng, nhiều năm. Lupus ban đỏ hệ thống thường gây tổn thương nội tạng nhiều nhất. Lupus ban đỏ biểu hiện rất đa dạng từ biểu hiện nhẹ trên da tổn thương khớp cho đến suy thận tiến triển nhanh, co giật, những tổn thương thần kinh và có thể gây mù lòa.

Khoảng 30.5% bệnh nhân có các triệu chứng về da liễu với khoảng 30% từ 50% bị triệu chứng điển hình của bệnh là phát ban má. Một số có thể bị vảy nến màu đỏ và dày trên da (gọi là lupus dạng đĩa). Nhiều người còn có biểu hiện rụng tóc, loét miệng, mũi và âm đạo.

benh-lupus-ban-do-he-thong
Lupus ban đỏ hệ thống ảnh hưởng đến nhiều bộ phận trên cơ thể.
Có khoảng 90% bệnh nhân bị đau khớp hoặc cơ trong một thời điểm nào đó trong quá trình phát triển bệnh. Các bệnh lý xương khớp biểu hiện như  viêm cơ gây đau cơ, giảm cơ lực, tăng enzym cơ,.. hoại tử đầu xương gặp ở 10% trường hợp.

Những tổn thương nội tạng như ở tim (tràn dịch màng tim, viêm cơ tim), ở phổi (tràn dịch màng phổi, viêm phổi), ở thận (viêm cầu thận), ở hệ thần kinh (co giật, rối loạn tâm thần), ở hệ tạo máu (thiếu máu, xuất huyết) thường xuất hiện trong giai đoạn toàn phát của bệnh ở khoảng 50-85% số bệnh nhân và là những nguyên nhân chủ yếu gây tử vong. Các triệu chứng này thường diễn biến thành từng đợt xen kẽ giữa những thời gian lui bệnh.

Điều trị lupus ban đỏ hệ thống bằng cách nào?

Lupus ban đỏ hệ thống không thể điều trị khỏi hoàn toàn nhưng có thể kiểm soát được nếu được phát hiện sớm và điều trị đúng cách. Mục đích chính của việc điều trị này là nhằm giảm thiểu triệu chứng và hạn chế các tổn thương nội tạng nặng.

Trong quá trình điều trị, người bệnh cần có chế độ nghỉ ngơi hợp lý và vận động thường xuyên vừa sức tránh biến chứng teo cơ và cứng khớp có thể xảy ra. Ngoài ra, người bệnh cần đến thăm khám định kỳ theo đúng chỉ định của bác sĩ chuyên khoa để được thăm khám và theo dõi điều trị hiệu quả.

dieu-tri-lupus-ban-do-he-thong
Khi có triệu chứng bệnh lupus ban đỏ hệ thống cần đến bệnh viện để được bác sĩ chuyên khoa thăm khám và theo dõi điều trị hiệu quả.
Một số loại thuốc điều trị bệnh lupus ban đỏ hệ thống như:

–  Các thuốc chống viêm giảm đau không phải steroid (NSAIDs) như Aspirin, Ibuprofen, Naproxen, Nimesulide có hiệu quả tốt với các triệu chứng ở cơ và khớp.

–  Các loại corticosteroid như prednisolone, methylprednisolone (Solu-medrol, Medrol), prednisone (Cortancyl), betamethasone (Celeston) có tác dụng chống viêm mạnh hơn nhóm NSAIDs nhưng cũng nhiều tác dụng phụ hơn và chỉ dùng trong trường hợp bệnh nặng có tổn thương nội tạng.

–  Các thuốc chống sốt rét như Hydroxychloroquine, Chloroquine có hiệu quả khá tốt với các tổn thương ở da và khớp. Các thuốc ức chế miễn dịch như azathioprin (Imuran), cyclophosphamide (Endoxan), cyclosporin (Sandimmun) chỉ dùng trong những trường hợp nặng không đáp ứng với corticosteroid đơn thuần do chúng thường có rất nhiều tác dụng phụ nguy hiểm.

Những loại thuốc điều trị lupus ban đỏ hệ thống thường gây nên những tác dụng phụ ảnh hưởng đến sức khỏe vì vậy người bệnh không được tự ý mua thuốc tự điều trị mà cần đến bệnh viện để được bác sĩ chuyên khoa thăm khám và chỉ định phác đồ điều trị đúng.

Cho đến nay, chưa có một loại thuốc đông dược nào chứng minh được hiệu quả rõ rệt trong điều trị lupus ban đỏ hệ thống. Do đó, người bệnh nên hết sức thận trọng khi sử dụng các thuốc này vì chúng cũng có thể gây ra nhiều tác dụng không mong muốn, thậm chí có thể đe dọa tính mạng của họ.


KHOA DA LIỄU BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ THU CÚC
CHĂM SÓC CHO LÀN DA KHỎE ĐẸP

Địa chỉ: 286 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
Email: contact@thucuchospital.vn
Hotline: 0904 97 0909 - Gọi cấp cứu(24/24): 043 728 0888
Giờ làm việc: 8:00 đến 17:00 - Tất cả các ngày trong tuần

Biểu hiện bệnh lupus ban đỏ hệ thống

Biểu hiện lupus ban đỏ hệ thống

Lupus ban đỏ hệ thống là bệnh lý nguy hiểm nhưng ít được biết đến. Những triệu chứng lupus ban đỏ hệ thống thường xuất hiện hầu hết ở các bộ phận trên cơ thể nếu không được phát hiện sớm và điều trị hiệu quả có thể gây nên những tổn thương nghiêm trọng đe dọa sức khỏe người bệnh.
Biểu hiện về cơ xương khớp

bieu-hien-benh-lupus-ban-do-he-thong
Người bị bệnh lupus ban đỏ hệ thống có thể bị đau khớp.
90% bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống bị đau khớp hoặc cơ trong một thời điểm nào đó của quá trình phát triển bệnh. Bệnh xuất hiện ở những khớp nhỏ ở tay và cổ tay và thường không gây hủy hoại nghiêm trọng cho khớp.

Biểu hiện trên da
bieu-hien-benh-lupus-ban-do-he-thong
Bệnh nhân có thể bị lở loét mũi miệng và âm đạo. 
Khoảng 30% bệnh nhân có triệu chứng trên da điển hình là hiện tượng phát ban má, mũi (phát ban cánh bướm). Một số người bệnh bị vảy đỏ và dày lên, rụng tóc, loét miệng, mũi và âm đạo.

Biểu hiện trên tim

bieu-hien-benh-lupus-ban-do-he-thong
Viêm các bộ phận của tim do bệnh lupus ban đỏ hệ thống.
Bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống có thể bị viêm các phần khác nhau ở tim: Viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim, viêm màng trong tim hoặc cũng có thể xuất hiện ở van hái lá, van ba lá.

Biểu hiện trên phổi

bieu-hien-benh-lupus-ban-do-he-thong
Triệu chứng của bệnh lupus ban đỏ hệ thống còn có thể xuất hiện trên phổi.
Triệu chứng lupus ban đỏ hệ thống có thể xuất hiện trên phổi gây viêm màng phổi, tràn dịch màng phổi, viêm phổi lupus, bệnh xơ cứng khe phổi mạn tính, tăng huyết áp phổi, nghẽn mạch phổi…

Biểu hiện trên thận
bieu-hien-benh-lupus-ban-do-he-thong

Biểu hiện về huyết học
bieu-hien-benh-lupus-ban-do-he-thong
Thiếu máu và thiếu sắt có thể xảy ra ở 50% bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống
Biểu hiện về thần kinh – tâm thần
bieu-hien-benh-lupus-ban-do-he-thong
Biểu hiện về thần kinh.
Biểu hiện thần kinh- tâm thần phổ biến nhất ở bệnh nhân lupus ban đỏ là đau đầu ngoài ra còn có các biểu hiện khác như sa sút trí tuệ, rối loạn tính cách, các bệnh về mạch máu não, động kinh, rối loạn lo âu, rối loạn tâm thần…
Nếu có xuất hiện triệu chứng lupus ban đỏ hệ thống như đau đầu, mệt mỏi, sốt, phát ban, đau khớp,… người bệnh nên đến ngay bệnh viện để được thăm khám và theo dõi điều trị tích cực hiệu quả, ngăn chặn sớm những nguy cơ biến chứng nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khỏe. Ngoài ra, trong quá trình điều trị, người bệnh cần tuyệt đối tuân thủ theo chỉ định của bác sĩ để có được hiệu quả tốt nhất tránh trường hợp tự ý dừng thuốc khiến bệnh trở nên nghiêm trọng khó kiểm soát.


KHOA DA LIỄU BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ THU CÚC
CHĂM SÓC CHO LÀN DA KHỎE ĐẸP
Địa chỉ: 286 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
Email: contact@thucuchospital.vn
Hotline: 0904 97 0909 - Gọi cấp cứu(24/24): 043 728 0888
Giờ làm việc: 8:00 đến 17:00 - Tất cả các ngày trong tuần

Điều trị lupus ban đỏ hệ thống như thế nào


Lupus ban đỏ hệ thống là bệnh tự miễn, việc điều trị lupus ban đỏ hệ thống như thế nào hiệu quả hiện vẫn là vấn đề nan giải trong ngành y học. Dưới đây là một số vấn đề bạn cần biết trong việc điều trị lupus ban đỏ hệ thống.

Bệnh lupus ban đỏ hệ thống là gì thưa bác sĩ?
dieu-tri-lupus-ban-do-he-thong-nhu-the-nao
Lupus ban đỏ hệ thống là bệnh lý khó điều trị khỏi hoàn toàn.
Lupus ban đỏ hệ thống là một bệnh tự miễn, trong đó hệ thống miễn dịch của con người tấn công chính những cơ quan và tế bào của cơ thể, làm chúng bị tổn thương và rối loạn chức năng. Nữ giới chiếm tới 90% tỷ lệ những người mắc bệnh này. Bệnh Lupus ban đỏ hoàn toàn không lây.

Điều trị lupus ban đỏ hệ thống có khỏi hoàn toàn không thưa bác sĩ?
Điều trị lupus ban đỏ hệ thống không khỏi hoàn toàn nhưng có thể kiểm soát được bệnh. Người bị lupus ban đỏ phải dùng thuốc cả đời và tuân thủ chặt chẽ theo hướng dẫn của bác sỹ.

Trong điều trị lupus ban đỏ hệ thống cần lưu ý những gì?
Lựa chọn lối sống lành mạnh hỗ trợ điều trị lupus ban đỏ hệ thống hiệu quả.
Lựa chọn lối sống lành mạnh hỗ trợ điều trị lupus ban đỏ hệ thống hiệu quả.
Trong quá trình điều trị, người bệnh cần lưu ý:

Tuyệt đối không được tự ý ngưng thuốc vì bất kỳ lý do gì;
Tránh những tác nhân kích thích từ môi trường, đặc biệt là ánh nắng mặt trời vì tia từ ngoại là yếu tố mạnh kích hoạt đợt cấp của bệnh;
Lựa chọn lối sống lành mạnh, không sử dụng chất kích thích, tránh các sang chấn tâm lý vì đây cũng là yếu tố làm bệnh khởi phát.
Chế độ làm việc của người mắc lupus ban đỏ hệ thống tùy thuộc theo mức độ bệnh. Nếu bệnh được kiểm soát tốt, người bệnh có thể làm việc bình thường không quá căng thẳng.
Trong trường hợp bệnh nặng, người bệnh phải có chế độ nghỉ ngơi hợp lý, hạn chế làm việc, tránh thức khuya.
Để điều trị lupus ban đỏ hệ thống hiệu quả, người bệnh cần lưu ý gì trong chế độ ăn uống?

Người mắc Lupus ban đỏ cần căn cứ theo mức độ bệnh để có chế độ ăn uống phù hợp. Nếu bị tổn thương thận, suy thận, người bệnh cần ăn giảm protein và muối. Trong trường hợp không có tổn thương nội tạng, bệnh nhân có thể áp dụng chế độ ăn uống tương đối giống người bình thường. Nếu sử dụng corticoid, người bệnh cần ăn nhạt hơn để tránh tình trạng muối giữ nước gây phù. Không nên kiêng khem quá đà làm ảnh hưởng đến cung cấp dinh dưỡng cho người bệnh.

Dùng thuốc điều trị lupus ban đỏ hệ thống như thế nào thưa bác sĩ?
dieu-tri-lupus-ban-do-he-thong-nhu-the-nao
Thăm khám bác sĩ chuyên khoa định kỳ và thực hiện theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ để điều trị bệnh lupus ban đỏ hệ thống hiệu quả.

Vấn đề dùng thuốc chữa bệnh lupus ban đỏ hệ thống vẫn còn nan giải với y khoa toàn thế giới. Hiện nay, thuốc không chữa khỏi, chỉ làm giảm triệu chứng, ổn định bệnh. Do bệnh gây tác hại trên nhiều cơ quan nên phải dùng nhiều loại thuốc. Hơn nữa, tình trạng bệnh, mức độ tiến triển ở mỗi cá nhân khác nhau nên khó có phác đồ điều trị thống nhất. Mục đích điều trị thường căn cứ vào mức độ nặng nhẹ và tiến triển của bệnh, bao gồm các giai đoạn tấn công, củng cố và duy trì. Cân nhắc cẩn thận giữa tác dụng và tác dụng phụ của mỗi loại thuốc tới các cơ quan khác trên cơ thể.


KHOA DA LIỄU BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ THU CÚC
CHĂM SÓC CHO LÀN DA KHỎE ĐẸP
Địa chỉ: 286 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
Email: contact@thucuchospital.vn
Hotline: 0904 97 0909 - Gọi cấp cứu(24/24): 043 728 0888
Giờ làm việc: 8:00 đến 17:00 - Tất cả các ngày trong tuần

Thứ Ba, 7 tháng 6, 2016

Triệu chứng của bệnh lupus ban đỏ hệ thống.

Đối tượng dễ mắc bệnh lupus ban đỏ hệ thống.

phu-nu-de-mac-benh-lupus-ban-do-he-thong
Bệnh lupus ban đỏ là bệnh hay gặp chủ yếu ở nữ giới.

Bệnh lupus ban đỏ là bệnh hay gặp chủ yếu ở nữ giới. Theo thống kê của Thế giới, bệnh này phổ biến ở phụ nữ nhiều hơn gấp 9 lần ở đàn ông, đặc biệt là ở lứa tuổi từ 20 đến 40 (Lứa tuổi khỏe mạnh nhất, cơ quan miễn dịch phát triển tốt nhất).

Rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, bệnh chủ yếu là ở nữ, khi sinh đẻ bệnh sẽ nặng hơn và nhiều hơn. Trong quá trình bị bệnh có sự rối loạn của nội tiết, estrogen tăng cao.

Các loại lupus ban đỏ hệ thống:

–  Lupus ban đỏ dạng đĩa: Đây là thể nhẹ của lupus ban đỏ. Bệnh chỉ có thương tổn ở da, không có thương tổn nội tạng.

– Lupus ban đỏ hệ thống: Bệnh gây thương tổn da và nhiều cơ quan nội tạng như: da, niêm mạc, gan, thận, khớp, tim, phổi, thần kinh…

Bệnh lupus ban đỏ hệ thống là một trong những bệnh tự miễn, tự sinh ra kháng thể chống lại chính bản thân mình và tồn tại suốt đời, bệnh tiến triển ngày càng nặng, đợt sau nặng hơn đợt trước và biểu hiện ở tất cả các cơ quan.

Đầu tiên bệnh biểu hiện ở ngoài da, 70-80% bệnh biểu hiện ở ngoài da và sau đó gây tổn thương về tim mạch, tổn thương về thận, khớp, thần kinh, tế bào máu và các cơ quan khác, nơi nào có mạch máu, nơi nào có phi mạch máu thì nơi đó có tổn thương của lupus ban đỏ hệ thống.

Nguyên nhân gây bệnh lupus ban đỏ hệ thống

Nhóm 1: Do di truyền, những người thành viên trong gia đình bị mắc lupus ban đỏ hệ thống thì những người thế hệ sau, đặc biệt là những người thế hệ thứ nhất dễ bị mắc hơn.

Nhóm 2: Do các yếu tố mắc phải của môi trường. Những yếu tố này không chỉ làm bệnh nặng thêm mà còn có thể kích hoạt quá trình hình thành bệnh. Bao gồm: các loại thuốc (như một số thuốc chống trầm cảm và kháng sinh), trầm cảm nặng, phơi nắng, hoóc môn, và viêm nhiễm. Tia UV kích hoạt việc hình thành các vùng phát ban lupus và một số bằng chứng cho thấy tia UV cũng có thể thay đổi cấu trúc ADN, dẫn đến việc hình thành các kháng thể tự miễn. Hoóc môn sinh dục (như estrogen) có vai trò quan trọng trong sự hình thành bệnh.

trieu-chung-benh-lupus-ban-do-he-thong
Triệu chứng bệnh lupus ban đỏ hệ thống.


 Các triệu chứng chính của bệnh bao gồm:

– Ban hình cánh bướm ở mặt, hai má và sống mũi.

– Sạm da và nhạy cảm với ánh sáng (phản ứng bất thường khi ra nắng).

– Sốt kéo dài

– Rụng tóc nhanh chóng ở một số vùng da đầu.

– Loét miệng hoặc mũi, họng.

– Viêm khớp dạng không thoái hóa ở một hay nhiều khớp ngoại vi. Bệnh nhân có thể cảm thấy một trong các triệu chứng: đau khi vận động, buốt, sưng tổ chức mềm quanh khớp. (Các khớp ngoại vi: khớp bàn chân, bàn tay, ngón chân, cổ tay, cổ chân, đầu gối, khuỷu tay, vai, khớp háng, khớp thái dương – hàm dưới).

– Viêm màng phổi, viêm màng tim.

– Rối lọan thần kinh hoặc loạn tâm thần.

– Rối loạn miễn dịch.

– Bệnh huyết học: thiếu máu do tan huyết, giảm bạch cầu, giảm lympho hoặc giảm tiểu cầu.

– Tổn thương lupus ban đỏ dạng đĩa: dát đỏ có vảy sừng dính và nút sừng ở nang lông, sẹo teo, có thể gặp ở bất kì vị trí nào trên cơ thể.

Nếu xuất hiện 4 trên 11 dấu hiệu trên thì bệnh nhân có thể nghĩ ngay đến bệnh lupus ban đỏ hệ thống và cần được khám và điều trị kịp thời.

KHOA DA LIỄU BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ THU CÚC
CHĂM SÓC CHO LÀN DA KHỎE ĐẸP
Địa chỉ: 286 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
Email: contact@thucuchospital.vn
Hotline: 0904 97 0909 - Gọi cấp cứu(24/24): 043 728 0888
Giờ làm việc: 8:00 đến 17:00 - Tất cả các ngày trong tuần

Thuốc điều trị bệnh lupus ban đỏ hệ thống.

Thuốc điều trị bệnh lupus ban đỏ hệ thống.

Bệnh Lupus ban đỏ hệ thống có khuynh hướng gia tăng. Hiện nay có nhiều thuốc chữa nhưng lại khó dùng. Vì vậy, người bệnh cần đi khám bệnh để có chỉ định dùng thuốc và cách dùng phù hợp, tránh tự ý sử dụng...


Lupus ban đỏ hệ thống là bệnh tự miễn. Kháng nguyên được hình thành tại chỗ do nhiều nguyên nhân (chấn thương, tiếp xúc với hóa chất, vi khuẩn, thuốc, chất độc, tia xạ...). Chúng làm cho cơ thể tự sinh ra kháng thể chống lại chính các tế bào của cơ thể gây hại cho nhiều cơ quan, tổ chức. Bệnh thường mắc ở lứa tuổi 10 - 40, nhiều nhất ở tuổi 20 - 40 và ngày càng có khuynh hướng tăng. Đây là bệnh mạn tính, đan xen giữa đợt bùng phát và đợt lui bệnh. Thuốc không chữa khỏi, chỉ làm giảm triệu chứng, ổn định bệnh. Từ khi có các thuốc ức chế miễn dịch tiên lượng bệnh đáp ứng với thuốc có khả quan hơn, nâng cao chất lượng, kéo dài thêm cuộc sống 10 - 20 năm so với trước. Do bệnh gây tác hại trên nhiều cơ quan tổ chức, nên phải dùng nhiều loại thuốc. Hơn nữa, trạng thái và mức độ bệnh khác nhau nên khó có phác đồ điều trị thống nhất. Có thể dùng một, hai, ba, thậm chí bốn thuốc với liều lượng thay đổi cho phù hợp.


1. Thuốc ức chế miễn dịch

thuoc-dieu-tri-benh-lupus-ban-do-he-thong
Thuốc điều trị bệnh lupus ban đỏ hệ thống.

Cyclophosphamid (endoxan) làm giảm triệu chứng protein niệu, giảm creatinin máu, cải thiện các triệu chứng về thận. Thường dùng với liều thấp (100mg/ngày) khác với khi dùng chống thải loại (trong ghép thận), lúc bệnh tương đối ổn định thì chuyển sang dùng loại nhẹ ít độc hơn (azathiopin) sẽ giảm  bớt các tác dụng phụ do thuốc gây ra.

Cyclosporin A ức chế chọn lọc trên tế bào lympho T, cải thiện tổn thương nội tạng, đặc biệt là thận. Thường dùng liều thấp (2-4mg/ngày) khác với khi dùng chống thải loại (trong ghép thận) nên giảm bớt độc tính do thuốc gây ra với người bệnh.

Methotrexat làm giảm các tổn thương ở khớp, da, niêm mạc kể các trường hợp dùng glucocorticoid, chống sốt rét chloroquin không đáp ứng.

Mecophenolatmofetyl làm giảm hầu hết các triệu chứng nặng, đặc biệt là các tổn thương ở thận, có tác dụng ngay khi các thuốc khác không đáp ứng. Tác dụng phụ  rất ít và nhẹ.

Thalidomid có hiệu quả khi bị các tổn thương da dai dẳng mà các thuốc khác không đáp ứng.

Dapson (diaminodiphenylsulfon) có hiệu quả tốt với các tổn thương da, loét miệng, giảm tiểu cầu, bạch cầu. Chỉ dùng cho người có tổn thương da và máu khi không đáp ứng với các thuốc khác. Liều thường dùng 25 -100mg.

 Các thuốc ức chế miễn dịch làm cho người bệnh giảm sức đề kháng, dễ nhiễm khuẩn. Theo cơ chế, chúng ức chế sự tăng miễn dịch (có hại) nên được coi như thuốc đặc trị nhưng lại không phải là chọn lựa đầu tiên mà chỉ dùng khi các thuốc khác không hoặc đáp ứng kém (do tác dụng phụ nói trên và một số độc tính khác). Chọn lựa thuốc căn cứ vào hiệu quả cải thiện triệu chứng với từng cơ quan tổ chức, đồng thời căn cứ vào độ độc (chọn thứ có hiệu quả, ít độc), lúc dùng cần chú ý làm giảm bớt độ độc bằng cách  dùng liều vừa  đủ, khi bệnh ổn định, chuyển sang dùng một loại nhẹ, ít độc hơn...

2. Thuốc Glucocorticoid

Glucocorticoid còn làm giảm lympho bào, giảm bạch cầu đơn nhân, giảm sự đáp ứng của lympho bào T với interleukin-1, ức chế tăng sinh lympho bào B, làm giảm sinh ra gbulobin miễn dịch (IgG), tạo ra nhân tố hoại tử khối u cytokin, ức chế interferon và TNF, kết quả cuối cùng là giảm viêm và ức chế miễn dịch.

Tùy tình trạng bệnh mà thay đổi liều, dạng dùng hay cách phối hợp thuốc. Trường hợp  nhẹ, có thể dùng một mình glucocorticoid hay phối hợp glucocorticoid với thuốc chống sốt rét chloroquin hoặc thuốc giảm đau, kháng viêm. Khi dùng phối hợp liều glucocorticoid bắt đầu với liều thấp. Mục đích làm giảm các triệu chứng nhẹ và ngăn đợt bùng phát cấp tính. Trong trường hợp bệnh vừa, dùng cách phối hợp này nhưng liều glucocorticoid cao hơn. Trường hợp nặng, phối hợp thêm thuốc ức chế miễn dịch nhưng liều glucocorticoid phải giảm.

Khi có tổn thương cơ quan nội tạng nặng, có thể dùng glucocorticoid truyền tĩnh mạch liều cao trong thời gian ngắn. Cách dùng này làm giảm lympho bào rõ rệt hơn (giảm tới 75%, kéo dài hơn tới 48 giờ); giảm sự sinh sản và ức chế sự hoạt hóa lympho bào hơn; làm giảm kéo dài glubolin miễn dịch (IgG) và các phức miễn dịch khác... nên cho hiệu quả tức thời và cao hơn khi dùng dạng uống.

Do thuốc gây ức chế miễn dịch nên làm cho người bệnh giảm sức đề kháng, dễ bị nhiễm khuẩn, biến chứng nhiễm khuẩn nặng có thể tử vong. Có thể gây động kinh, cơn trầm cảm, loạn thần kinh cấp, đau khớp cơ, viêm tụy, loét và xuất huyết đường tiêu hóa... Chỉ dùng phương pháp này khi bệnh gây các tổn thương nội tạng nặng (phổi, thận, tim mạch, máu..). Ví dụ như tràn dịch màng phổi, tràn dịch màng tim...

3. Thuốc chống sốt rét chloroquin:

Có tác dụng làm giảm tổn thương khớp, da (sau 3 tuần hay vài tháng). Thường phối hợp với corticoid, hay kháng viêm không steroid, có khi kết hợp thêm thuốc ức chế miễn dịch. Người bệnh thường phải dùng thuốc kéo dài nên chọn dạng hydrochloroquin ít độc hơn.

Thuốc kháng viêm không steroid: Có tác dụng làm giảm triệu chứng viêm, đau. Thường kết hợp với corticoid hoặc có khi kết hợp thêm thuốc chế miễn dịch. Khi kết hợp hiệu quả kháng viêm, giảm đau đạt được tốt hơn.

Hiện trên thị trường có nhiều thuốc trong đó có các thuốc mới làm cho kết quả điều trị Lupus ban đỏ hệ thống tiến bộ nhiều so với trước. Nhưng do thuốc có tính độc, khó dùng trên cơ địa khá phức tạp nên phải thận trọng. Dù là loại thuốc phải kê đơn hay không kê đơn (OTC), dạng uống hay dạng tiêm, nhất thiết phải có sư chỉ định của thầy thuốc.

KHOA DA LIỄU BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ THU CÚC
CHĂM SÓC CHO LÀN DA KHỎE ĐẸP
Địa chỉ: 286 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
Email: contact@thucuchospital.vn
Hotline: 0904 97 0909 - Gọi cấp cứu(24/24): 043 728 0888
Giờ làm việc: 8:00 đến 17:00 - Tất cả các ngày trong tuần



Tổng quan về bệnh lupus ban đỏ hệ thống.

Bệnh Lupus ban đỏ hệ thống là gì? có lây không?
  
Triệu chứng bệnh Lupus ban đỏ là gì? có lây không? Lupus ban đỏ hệ thống thường được gọi đơn giản là bệnh lupus, được mô tả lần đầu tiên vào năm 1845 bởi Hebra. Đây là một bệnh tự miễn mạn tính, không rõ nguyên nhân, gây tổn thương hầu hết các hệ cơ quan trong cơ thể và trong trường hợp nặng, có thể đe dọa tính mạng người bệnh. Ở người mắc lupus ban đỏ hệ thống, hệ miễn dịch không giúp cơ thể chống lại sự xâm nhập của các tác nhân lạ, gây bệnh mà quay ra chống lại cơ thể bằng cách sinh ra các kháng thể kháng lại các tế bào của hầu hết các cơ quan…

benh-lupus-ban-do-he-thong
Bệnh lupus ban đỏ hệ thống.

Bệnh Lupus ban đỏ hệ thống là gì?

Lupus ban đỏ hệ thống, hay còn được gọi tắt là lupus (SLE- Systemic Lupus Erythematosus), là một bệnh tự miễn trong đó hệ thống miễn dich của con người tấn công chính những cơ quan và các tế bào của cơ thể, làm chúng bị tổn thương và rối loạn chức năng. Lupus ban đỏ hệ thống là bệnh lý của mô liên kết có tổn thương nhiều cơ quan do hệ thống miễn dịch của cơ thể bị rối loạn, đặc trưng bởi sự có mặt của kháng thể kháng nhân và nhiều tự kháng thể khác. Các cơ quan thường bị tổn thương bao gồm khớp, da, thận, tế bào máu, tim, phổi, thần kinh…
Hệ miễn dịch có chức năng tấn công các vật lạ trong cơ thể. Nếu quý vị mắc bệnh lupus, có cái gì đó không ổn với hệ miễn dịch của quý vị và nó tấn công các tế bào và mô khỏe mạnh. Điều này có thể gây tổn thương nhiều bộ phận trên cơ thể chẳng hạn như: Khớp, Da, Thận, Tim, Phổi, Mạch máu, Não. Có nhiều loại bệnh lupus. Loại thường gặp nhất, lupus ban đỏ toàn thân, gây ảnh hưởng đến nhiều bộ phận trên cơ thể. Các loại bệnh lupus khác là:

Lupus ban đỏ hệ thống dạng đĩa gây phát ban da và không khỏi
Lupus ban đỏ hệ thống bán cấp da gây ra lở loét da trên các bộ phận của cơ thể tiếp xúc với ánh sáng mặt trời
Lupus do thuốc gây ra có thể gây ra do dược phẩm
Lupus ở trẻ sơ sinh một loại lupus hiếm gặp gây ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh.
Lupus là từ La tinh, có nghĩa chó sói, xuất phát từ việc người bệnh thường có ban đỏ đặc trưng ở mặt giống như hình vết cắn của chó sói. Từ ban đỏ để chỉ một dấu hiệu phổ biến ở hầu hết các bệnh nhân mắc bệnh này. Từ hệ thống được sử dụng do bệnh gây ảnh hưởng đến phần lớn các hệ thống cơ quan trong cơ thể.

Lupus ban đỏ hệ thống là vấn đề toàn cầu, với hàng triệu người mới mắc hàng năm trên thế giới nhưng xã hội còn ít biết đến sự tồn tại của nó. Theo nghiên cứu của Hội Lupus Mỹ, hiện nay nước này có khoảng 2 triệu người bệnh lupus ban đỏ hệ thống, số người chết do bệnh tăng từ 879 năm 1979 lên 1.046 năm 2002 và 40% bệnh nhân đã phải nghỉ việc.

benh-lupus-ban-do-he-thong-co-nguy-hiem-khong
Bệnh lupus ban đỏ hệ thống có nguy hiểm không.

Bệnh Lupus ban đỏ có nguy hiểm không?

Bệnh thuộc nhóm bệnh tự miễn (auto-immune) , nghĩa là hệ miễn dịch của chính bệnh nhân sản xuất ra một kháng thể chống lại các cơ quan của chính cơ thể mình. Bệnh không phải do ai lây và cũng không lây cho ai. Tùy mỗi bệnh nhân, ngẫu nhiên kháng thể tự sinh ấy sẽ tàn phá một hay nhiều cơ quan khác nhau, chính vì lẽ đó bệnh được gọi là bệnh “hệ thống” (systemic) do nó dòm ngó đến cả hệ thống các cơ quan trong cơ thể như:

Tấn công tim: gây viêm cơ tim, viêm nội mạc tim, viêm màng ngoài tim …
Tổn thương gan: gây viêm gan, suy gan
Tấn công thận: gây viêm thận, suy thận
Vào khớp: gây viêm đa khớp , biến dạng khớp
Tấn công hệ huyết học: gây tiêu huyết, giảm tiểu cầu, rối loạn đông máu
Vào hệ thần kinh: gây viêm não
Biểu hiện da: gây sang thương da, mặt sói …
Và chấm dứt bằng tử vong do bệnh.
Do bệnh có thể bộc lộ ra ở các cơ quan khác nhau, nên tùy biểu hiện ở cơ quan nào thì chuyên khoa tương ứng sẽ đảm trách nhận bệnh nhân điều trị.


Lupus ban đỏ không được xếp vào loại bệnh lây truyền, bởi vì bệnh không có đặc điểm của bệnh truyền nhiễm. Thông thường các bệnh truyền nhiễm đều là do virus, vi khuẩn, ký sinh trùng gây nên, trong một môi trường nhất định lây truyền sang các cá thể khác, và phát tán trong cộng đồng với tốc độ cực nhanh. Các bệnh truyền nhiễm bao gồm bệnh sởi, viêm gan do virus, bệnh lị, aids…Bệnh lupus ban đỏ là bệnh mang tính miễn dịch tự thân, là do chức năng miễn dịch tự thân gây nên.
Có người cho rằng nguyên nhân bệnh lupus ban đỏ có liên quan đến các một vài loại virus truyền nhiễm nào đó (đặc biệt là virus mãn tính). Từ trong dịch tế bào nội mô tiểu cầu thận, tế bào nội mô huyết quản, tổn thương mô của bệnh nhân đều có thể phát hiện ra loại vật chất tương tự. Đồng thời nồng độ huyết thanh của bệnh nhân đối với virus tăng cao, đặc biệt là virus sởi, HPIVs type I, II, virus EB, virus rubella và virus Orthomyxo.
Lupus ban đỏ có lây truyền hay không? Nguyên nhân gây bệnh là gì? Thông qua phần giới thiệu ở trên, tôi cho rằng rất nhiều người đã hiểu rõ, bệnh nhân cần hết sức chú ý đến nội dung này, nếu như có vấn đề gì chữa rõ có thể tư vấn với chuyên gia.

KHOA DA LIỄU BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ THU CÚC
CHĂM SÓC CHO LÀN DA KHỎE ĐẸP
Địa chỉ: 286 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
Email: contact@thucuchospital.vn
Hotline: 0904 97 0909 - Gọi cấp cứu(24/24): 043 728 0888
Giờ làm việc: 8:00 đến 17:00 - Tất cả các ngày trong tuần


Tìm hiểu về bệnh lupus ban đỏ hệ thống .

Bệnh Lupus ban đỏ hệ thống là gì ?

Lupus ban đỏ hệ thống, hay còn được gọi tắt là lupus (SLE- Systemic Lupus Erythematosus), là một bệnh tự miễn trong đó hệ thống miễn dich của con người tấn công chính những cơ quan và các tế bào của cơ thể, làm chúng bị tổn thương và rối loạn chức năng. Lupus ban đỏ hệ thống là bệnh lý của mô liên kết có tổn thương nhiều cơ quan do hệ thống miễn dịch của cơ thể bị rối loạn, đặc trưng bởi sự có mặt của kháng thể kháng nhân và nhiều tự kháng thể khác. Các cơ quan thường bị tổn thương bao gồm khớp, da, thận, tế bào máu, tim, phổi, thần kinh…

benh-lupus-ban-do-he-thong
Bệnh lupus ban đỏ hệ thống.

Nguyên nhân gây bệnh lupus ban đỏ hệ thống.
Cho đến nay, nguyên nhân gây bệnh và cơ chế bệnh sinh chính xác của lupus ban đỏ hệ thống chưa được biết rõ. Cơ chế bệnh sinh của bệnh là một quá trình phức tạp với sự tham gia của nhiều yếu tố như di truyền, miễn dịch thể dịch, miễn dịch tế bào và yếu tố môi trường. Một số gen quy định phức hợp kháng nguyên phù hợp tổ chức như HLA-DR2,3,8, các gen mã hóa bổ thể C1q, C2, C4 và một số cytokin có liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh cao.

Nhóm 1: Do di truyền, những người thành viên trong gia đình bị mắc lupus ban đỏ hệ thống thì những người thế hệ sau, đặc biệt là những người thế hệ thứ nhất dễ bị mắc hơn.
Nhóm 2: Do các yếu tố mắc phải của môi trường. Những yếu tố này không chỉ làm bệnh nặng thêm mà còn có thể kích hoạt quá trình hình thành bệnh. Bao gồm: các loại thuốc (như một số thuốc chống trầm cảm và kháng sinh), trầm cảm nặng, phơi nắng, hoóc môn, và viêm nhiễm. Tia UV kích hoạt việc hình thành các vùng phát ban lupus và một số bằng chứng cho thấy tia UV cũng có thể thay đổi cấu trúc ADN, dẫn đến việc hình thành các kháng thể tự miễn. Hoóc môn sinh dục (như estrogen) có vai trò quan trọng trong sự hình thành bệnh.

trieu-chung-benh-lupus-ban-do-he-thong
Sốt không rõ nguyên nhân có thể là triệu chứng bệnh lupus ban đỏ hệ thống.

Triệu chứng bệnh lupus ban đỏ hệ thống
Bệnh lupus có nhiều triệu chứng khác nhau, nhưng một số triệu chứng phổ biến nhất của bệnh lupus đó là:

+ Đau hoặc sưng khớp, đau cơ.
+ Sốt không rõ nguyên nhân.
+ Ban đỏ, thường ở trên mặt
+ Đau ngực khi hít thở sâu
+ Rụng tóc, miệng loét, phình tuyến, cảm thấy mệt mỏi
+ Ngón tay hoặc ngón chân tái nhợt hoặc tím bầm
+ Nhạy cảm với ánh sáng mặt trời
+ Sưng ở chân hoặc xung quanh mắt

Các triệu chứng ít gặp hơn bao gồm:

+ Thiếu máu (giảm tế bào hồng cầu), nhức đầu, chóng mặt.
+ Cảm thấy buồn, bối rối, co giật.

Các triệu chứng có thể xuất hiện và biến mất. Những thời điểm một người biểu hiện các triệu chứng được gọi là bùng phát, mức độ có thể từ nhẹ đến nặng. Triệu chứng mới có thể xuất hiện bất cứ lúc nào.

KHOA DA LIỄU BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ THU CÚC
CHĂM SÓC CHO LÀN DA KHỎE ĐẸP
Địa chỉ: 286 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
Email: contact@thucuchospital.vn
Hotline: 0904 97 0909 - Gọi cấp cứu(24/24): 043 728 0888
Giờ làm việc: 8:00 đến 17:00 - Tất cả các ngày trong tuần




Phương pháp điều trị bệnh lupus ban đỏ hệ thống.


1. Nguyên tắc điều trị

–    Phải đánh giá các tổn thương, mức độ nặng nhẹ của bệnh, các bệnh kèm theo, để quyết định biện pháp điều trị. Điều trị cấp cứu phải đặt ra cho các trường hợp bệnh nặng.

–    Quá trình điều trị bao gồm: điều trị các đợt tiến triển và điều trị phòng các đợt tái phát bệnh. Áp dụng điều trị tuỳ theo từng cá thể.

–    Thưòng hay sử dụng các thuốc ức chế viêm hay thuốc can thiệp vào chức năng miễn dịch, cần phải cân nhắc đánh giá được tác dụng phụ của thuốc (tăng huyết áp, nhiễm khuẩn, loãng xương…).

–    Hiện nay việc điều trị bao gồm các thuốc sau:

Thuốc chống viêm không steroid (CVKS): mọi thuốc trong nhóm này.

Corticoid: liều tuỳ mức độ nặng nhẹ của bệnh, cho phép cải thiện tiên lượng của bệnh đáng kể.

Các thuốc chống sốt rét tổng hợp (CSRTH): được coi là thuốc điều trị cơ bản của bệnh.

Thuốc ức chế miễn dịch: chỉ định trong các thể nặng

Các thuốc khác (Danazol, globulin miễn dịch, Dapson…)


dieu-tri-benh-lupus-ban-do-he-thong
Điều trị bệnh lupus ban đỏ hệ thống.


2. Điều trị theo th

–    Đối với thể lành tính: là thể không có tổn thương các nội tạng đe doạ đến tính mạng. Các thuốc chỉ định bao gồm: CVKS và chống sất rét tổng hợp. Ở giai đoạn tiến triển, chỉ định thêm corticoid liều nhỏ (10-20mg/24h), ngắn ngày.

–    Đối với thể nặng: là thể có tổn thương các tạng quan trọng, thường là các thận. Sử dụng corticoid liều cao: 1-2mg/kg/24h. Khi bệnh được kiểm soát, giảm liều 10% mỗi tuần. Đến khi đạt 20mg/24h thì giảm chậm hơn. Có thể dùng liều gấp đôi cách ngày.

Kết hợp vối thuốc chống sốt rét tổng hợp. Trong trường hợp bệnh nặng vừa có thể uống hàng ngày azathioprin 1,5-2,5mg/kg/24h. Khi bệnh nặng, đe doạ tính mạng hoặc có xu hướng tăng tổn thương cơ quan cần dùng liều cao corticoiđ phối hợp với thuốc ức chế miễn dịch khác.

–    Trường hợp tổn thương nội tạng đe doạ tử vong, dùng bolus (pulse therapy) với methylprednisolon. Sau đó duy trì tiếp bằng liều 30-40 mg prednison. Liệu pháp trên thường tốt với tổn thương thận, song ít kết quả đôi với tổn thương tâm thần kinh.

Khi đã khống chế được bệnh, giảm dần liều corticoid. Thường kết hợp dùng thuốc chống sốt rét tổng hợp. Cũng có thể dùng bolus cyclophosphamid 10-20mg/kg/24h truyền tĩnh mạch 3-4 tuần một lần hoặc dùng đường uống 1,5-2,5mg/kg/24h. Nên kết hợp mesna (Uromitexan) để dự phòng biến chứng bàng quang.

Điều trị kết hợp: tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà sử dụng các thuốc kháng sinh, chống đông, hạ áp, an thần kinh. Có thể phối hợp lọc huyết tương, cyclosporin A, Mycophenolat mofetil cũng thấy hiệu quả trong thể có tổn thương thận.

–    Ghép thận khi tổn thương thận gây suy thận không hồi phục.

3. Điều trị theo triệu chứng

–    Sốt: có thể dùng các một trong các loại thuốc: aspirin, CVKS, corticoid.

–    Đau khớp: tuỳ theo mức độ đau có thể dùng một trong các thuốc sau: aspirin, chống viêm không steroid (CVKS), thuốc chống sốt rét tổng hợp. Nếu có biểu hiện viêm khớp rõ thì có thể dùng thêm corticoid.

–    Ban ở da: dùng corticoid ngoài da, kết hợp với CSRTH.

–    Viêm màng phổi, màng ngoài tim: đáp ứng tốt với thuốc CVKS hay corticoid.

–    Tổn thương phổi: dùng corticoid.

–    Tăng huyết áp: dùng các thuốc lợi tiểu, chẹn beta giao cảm, ức chế men chuyển hay các thuốc khác

–    Giảm tiểu cầu, thiếu máu huyết tán: dùng corticoid rất có hiệu quả. Trường hợp bị kháng corticoid hay phụ thuộc corticoid có thể dùng các thuốc khác như danazol, dapson hay tiêm truyền vinblastin. Nhưng thường áp dụng cắt lách, sau đó tiêm vaccin kháng phế cầu. Truyền gamma-globulin miễn dịch, thường rất có hiệu lực ngắn hạn, chỉ được dùng khi giảm tiểu cầu nặng và chuẩn bị cho phẫu thuật, đặc biệt cắt lách.

–    Tổn thương thận: dùng corticoid, thậm chí bolus corticoid. Nếu không hiệu quả có thể sử dụng thuốc ức chế miễn dịch (bolus tĩnh mạch). Nếu bệnh nhân có viêm thận giai đoạn cuối, cần có kế hoạch chạy thận nhân tạo hay ghép thận.

–    Tổn thương thần kinh trung ương: có thể dùng corticoid hoặc thuốc ức chế miễn dịch.

–    Cơn Migrain: propranolol.

dieu-tri-benh-lupus-ban-do-he-thong
Điều trị bệnh lupus ban đỏ hệ thống.


4. Điều trị kết hợp và một số tình huống đặc biệt

–    Loãng xương do dùng corticoid: các bệnh nhân lupus hay dùng corticoid liều cao kéo dài nên hay có biến chứng loãng xương, đặc biệt là trên bệnh nhân nữ có tuổi. Có thể làm giảm tác dụng này bằng cách cho calci hàng ngày (1g/ngày) và vitamin D. Cần theo dõi calci máu và niệu để tránh biến chứng sỏi thận.

–    Hoại tử vô khuẩn đầu trên xương đùi: cũng gặp trong lupus đặc biệt trên bệnh nhân có viêm mao mạch và/hoặc hội chứng Raynaud và dùng corticoid kéo dài. Phát hiện sớm sẽ làmg giảm nguy cơ phải phẫu thuật chỉnh hình.

–    Các bệnh cơ do corticoid: cũng hay gặp. Có thể phòng ngừa băng các bài luyện tập cơ ở chi. Tránh các chế phẩm corticoid chứa Fluo cũng ngừa được biến chứng này.

–    LBH phải phẫu thuật: nếu bệnh nhân đang dùng corticoid trước đó, thì liều thuốc corticoid vẫn phải được duy trì trong lúc phẫu thuật. Lúc đó thường dùng đường tĩnh mạch trong lúc gây mê và tiếp tục duy trì trong khi mổ với liều 200-300mg hydrocortison hoặc 50-60mg methylprednisolon. Sau vài ngày, khi đã dùng được đưòng uống, có thể quay lại liều trước khi mổ mà không cần phải giữ liều cao.

–    Lupus và thai nghén:

Thai nghén làm nặng thêm bệnh lupus ban đỏ (đặc biệt là nặng thêm tổn thương thận) và dễ gây sảy thai, đẻ non, thai chết lưu. Vì vậy chỉ khuyên một phụ nữ mắc bệnh lupus có thai trong các điều kiện sau: phải không có các dấu hiệu tiến triển bệnh về lâm sàng và cận lâm sàng trong 6 tháng đến 1 năm liền trước đó.

Chống chỉ định trên nguyên tắc ở phụ nữ có thai khi bị lupus ban đỏ hệ thống: độ thanh lọc (thải) creatinin < 50ml/phút. Tăng huyết áp nặng. Tăng áp lực động mạch phổi. Bệnh van tim không bù. Có tiền sử huyết khối rõ. Phụ thuộc corticoid > 0,5mg/kg/ngày.

Trong khi có thai phải theo dõi như là thai nghén có nhiều nguy cơ. Trong các thể nhẹ, corticoid được dùng với liều 0,2-0,3mg/kg/ngày. Nếu bệnh nhân đang dùng corticoid phải theo dõi điều trị và tăng liều do thai nghén. Nếu bệnh nhân không dùng corticoid thì trong 3 tháng cuối phải cho corticoid liều 0,5mg/kg/24h, hoặc trong trường hợp xảy thai hay nạo thai.

Hiện nay vẫn cho tiếp tục hydrroxychloroquin, đặc biệt trong tiền sử có bệnh thận. Trong các lupus tiến triển và nếu thai nghén được theo dõi, có thể dùng azathioprin hay cyclosporin A. Sau đẻ không nên giảm liều corticoid trong vài tháng. Những bà mẹ bị luput được điều trị bằng corticoid hay các thuốc chống sót rét tổng hợp vẫn có thể cho con bú.

Vấn đề tránh thai: không nên dùng dụng cụ tử cung vì có nguy cơ nhiễm trùng. Nên dùng thuốc tránh thai liều cực thấp (Luteran 5, Androcur, Androan). Chống chỉ định dùng thuốc tránh thai trong trường hợp tiền sử có huyết khối, kháng thể chống đông lưu hành hoặc phản ứng BW dương tính giả.

KHOA DA LIỄU BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ THU CÚC
CHĂM SÓC CHO LÀN DA KHỎE ĐẸP
Địa chỉ: 286 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
Email: contact@thucuchospital.vn
Hotline: 0904 97 0909 - Gọi cấp cứu(24/24): 043 728 0888
Giờ làm việc: 8:00 đến 17:00 - Tất cả các ngày trong tuần


Nguyên nhân gây bệnh Lupus ban đỏ hệ thống.


Nguyên nhân gây bệnh chính thức không được biết rõ, người ta cho rằng lupus ban đỏ hệ thống được gây ra do sự phối hợp của nhiều yếu tố, trong đó đặc biệt quan trọng là các yếu tố:

Di truyền: Anh chị em ruột của các bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 20 lần so với người thường.
Môi trường: Do nhiễm khuẩn, tiếp xúc với hoá chất, ánh nắng mặt trời…
Nội tiết: Bệnh gặp chủ yếu ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (nhiều hơn gấp 9 lần so với nam giới). Sau khi mãn kinh, cả tỷ lệ mắc và mức độ của bệnh đều giảm rõ rệt, còn trong thời kỳ mang thai bệnh thường nặng lên.
Triệu chứng của bệnh Lupus ban đỏ hệ thống

trieu-chung-cua-benh-lupus-ban-do-he-thong
Triệu chứng của bệnh lupus ban đỏ hệ thống.

 Các triệu chứng của lupus ban đỏ hệ thống có thể xuất hiện đột ngột hoặc từ từ sau nhiều tháng, nhiều năm. Do ảnh hưởng đến hầu hết các cơ quan trong cơ thể nên triệu chứng của bệnh hết sức đa dạng và thường nặng lên vào các tháng mùa đông. Có lẽ do hậu quả của sự tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời trong thời gian mùa hè trước đó.
Hơn 90% số bệnh nhân đến khám có các biểu hiện không đặc hiệu như gầy sút, mệt mỏi, sốt nhẹ, rụng tóc, viêm loét miệng, đau các khớp nhỏ. đau mỏi cơ, rối loạn kinh nguyệt. Khoảng 3/4 số bệnh nhân thấy nổi các ban đỏ bất thường trên da, trong đó hay gặp nhất là ban cánh bướm ở mặt, một dấu hiệu rất đặc trưng của lupus ban đỏ hệ thống (ban đỏ ở 2 gò má bắc cầu qua sống mũi).
Những tổn thương nội tạng như ở tim (tràn dịch màng tim, viêm cơ tim), ở phổi (tràn dịch màng phổi, viêm phổi), ở thận (viêm cầu thận), ở hệ thần kinh (co giật, rối loạn tâm thần), ở hệ tạo máu (thiếu máu, xuất huyết) thường xuất hiện trong giai đoạn toàn phát của bệnh ở khoảng 50-85% số bệnh nhân và là những nguyên nhân chủ yếu gây tử vong. Các triệu chứng này thường diễn biến thành từng đợt xen kẽ giữa những thời gian lui bệnh.
Trong giai đoạn đầu của bệnh, các triệu chứng thường mơ hồ và giống với nhiều bệnh lý khác cho nên kể từ lúc có những triệu chứng đầu tiên cho đến khi bệnh được chẩn đoán chính xác có thể phải mất vài năm.

KHOA DA LIỄU BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ THU CÚC
CHĂM SÓC CHO LÀN DA KHỎE ĐẸP
Địa chỉ: 286 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
Email: contact@thucuchospital.vn
Hotline: 0904 97 0909 - Gọi cấp cứu(24/24): 043 728 0888
Giờ làm việc: 8:00 đến 17:00 - Tất cả các ngày trong tuần



Điều trị bệnh Lupus ban đỏ hệ thống như thế nào?


Lupus ban đỏ hệ thống không thể điều trị khỏi hoàn toàn nhưng có thể kiểm soát được nếu điều trị đúng. Mục đích chính của việc điều trị này là nhằm giảm thiểu triệu chứng và hạn chế các tổn thương nội tạng nặng. Trong giai đoạn bệnh đang cấp, người bệnh cần được tăng cường nghỉ ngơi nhưng vẫn cần một chế độ vận động hợp lý để tránh teo cơ và cứng khớp.
Các thuốc chống viêm giảm đau không phải steroid (NSAIDs) như Aspirin, Ibuprofen, Naproxen, Nimesulide có hiệu quả tốt với các triệu chứng ở cơ và khớp. Tác dụng phụ thường gặp nhất của chúng là gây viêm loét dạ dầy tá tràng và để hạn chế tối đa tác dụng phụ này chúng nên được dùng trong bữa ăn.

benh-lupus-ban-do-he-thong
Bệnh lupus ban đỏ hệ thống.


Các loại corticosteroid như prednisolone, methylprednisolone (Solu-medrol, Medrol), prednisone (Cortancyl), betamethasone (Celeston) có tác dụng chống viêm mạnh hơn nhóm NSAIDs nhưng cũng nhiều tác dụng phụ hơn và chỉ dùng trong trường hợp bệnh nặng có tổn thương nội tạng. Các tác dụng phụ thường gặp của nhóm thuốc này là viêm loét dạ dầy tá tràng, tăng đường máu, loãng xương, rạn da, tăng nguy cơ nhiễm trùng, ức chế tuyến thượng thận. Chúng nên được uống một lần sau bữa ăn sáng.
Các thuốc chống sốt rét như Hydroxychloroquine, Chloroquine có hiệu quả khá tốt với các tổn thương ở da và khớp. Các thuốc ức chế miễn dịch như azathioprin (Imuran), cyclophosphamide (Endoxan), cyclosporin (Sandimmun) chỉ dùng trong những trường hợp nặng không đáp ứng với corticosteroid đơn thuần do chúng thường có rất nhiều tác dụng phụ nguy hiểm.
Cho đến nay, chưa có một loại thuốc đông dược nào chứng minh được hiệu quả rõ rệt trong điều trị lupus ban đỏ hệ thống. Do đó, người bệnh nên hết sức thận trọng khi sử dụng các thuốc này vì chúng cũng có thể gây ra nhiều tác dụng không mong muốn, thậm chí có thể đe doạ tính mạng của họ.

Làm thế nào để dự phòng các đợt cấp của bệnh

Người bị mắc bệnh lupus ban đỏ hệ thống cần có một cuộc sống lành mạnh, năng vận động, ít sang chấn tâm lý. Ngoài ra, tia tử ngoại trong ánh nắng mặt trời thường khởi phát hoặc làm nặng các đợt cấp của bệnh nên cần được tránh tiếp xúc tối đa. Việc ngừng đột ngột các thuốc, đặc biệt corticosteroid cũng là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến các đợt cấp của bệnh và do đó cũng cần được tránh.

Người mắc bệnh sẽ sống được bao lâu? Tùy tuổi bắt đầu bệnh, việc điều trị tích cực đúng cách hay không và bệnh có đáp ứng nhanh với điều trị hay không mà tiên lượng. Có trường hợp sống chỉ vài tháng, có trường hợp vài năm, cũng có trường hợp may mắn đáp ứng thuốc thật tốt thì bệnh ổn định hơn cả chục năm.

Những phương pháp điều trị và hiệu quả? Bệnh rất khó chữa do vậy phải được điều trị sớm và đúng cách:

dieu-tri-benh-lupus-ban-do-he-thong
Điều trị bệnh lupus ban đỏ hệ thống.


Đầu tiên là corticosteroid, liều chuẩn prednisone 1-2 mg/Kg thể trọng mỗi ngày.
Tiếp theo là hóa chất (như thuốc trị ung thư): methotrexate, cyclophosphamide, azathioprine …
Tiếp theo là kháng thể đơn dòng chống lympho B: anti-CD20 (Rituximab …)
Bổ sung bằng các thuốc đặc trưng ở mỗi chuyên khoa tùy vào cơ quan bị tổn thương chính yếu: truyền máu, truyền albumin cho các bệnh nhân bị thận làm mất albumin nặng gây phù ..
Hiệu quả điều trị: không ai dám nói trước vì có thể sẽ rất ngoạn mục nhưng cũng có thể rất bi thảm.

Cần làm gì để phòng chống bệnh? Không thể phòng bệnh được vì không thể lường trước được ai sẽ mắc bệnh. Một số cực hiếm trường hợp bệnh thứ phát do thuốc thì phải tránh các thuốc ấy.

KHOA DA LIỄU BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ THU CÚC
CHĂM SÓC CHO LÀN DA KHỎE ĐẸP
Địa chỉ: 286 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
Email: contact@thucuchospital.vn
Hotline: 0904 97 0909 - Gọi cấp cứu(24/24): 043 728 0888
Giờ làm việc: 8:00 đến 17:00 - Tất cả các ngày trong tuần



Chẩn đoán bệnh lupus ban đỏ hệ thống.

Bệnh lupus ban đỏ hệ thống (Systemic lupus erythematosus- SLE)

1. Định nghĩa

Lupus ban đỏ hệ thống là bệnh lý của mô liên kết có tổn thương nhiều cơ quan do hệ thống miễn dịch của cơ thể bị rối loạn, đặc trưng bởi sự có mặt của kháng thể kháng nhân và nhiều tự kháng thể khác. Các cơ quan thường bị tổn thương bao gồm khớp, da, thận, tế bào máu, tim, phổi, thần kinh…

benh-lupus-ban-do-he-thong
Bệnh lupus ban đỏ hệ thống.


2. Nguyên nhân

Cho đến nay, nguyên nhân gây bệnh và cơ chế bệnh sinh chính xác của lupus ban đỏ hệ thống chưa được biết rõ. Cơ chế bệnh sinh của bệnh là một quá trình phức tạp với sự tham gia của nhiều yếu tố như di truyền, miễn dịch thể dịch, miễn dịch tế bào và yếu tố môi trường. Một số gen quy định phức hợp kháng nguyên phù hợp tổ chức như HLA-DR2,3,8, các gen mã hóa bổ thể C1q, C2, C4 và một số cytokin có liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh cao.

3. Chẩn đoán

a) Lâm sàng: chủ yếu gặp thể bán cấp

- Tỉ lệ mắc bệnh nữ: nam= 9:1, chủ yếu ở độ tuổi 20-30.

- Khởi phát: Đa số bắt đầu từ từ, tăng dần với sốt dai dẳng không rõ nguyên nhân, đau khớp hoặc viêm khớp với biểu hiện tương tự trong bệnh viêm khớp dạng thấp. Có một số yếu tố thuận lợi khởi phát bệnh: nhiễm trùng, chấn thương, stress, thuốc…

- Toàn phát: tổn thương nhiều cơ quan
+ Toàn thân: sốt dai dẳng kéo dài, mệt mỏi, gầy sút.
+ Cơ xương khớp: đau hoặc viêm các khớp với biểu hiện tương tự trong bệnh viêm khớp dạng thấp song hiếm khi biến dạng khớp; đau cơ. Một số hiếm trường hợp có hoại tử xương (thường gặp hoại tử vô mạch đầu trên xương đùi).
+ Da niêm mạc: ban đỏ hình cánh bướm ở mặt (rất thường gặp), ban dạng đĩa, (gặp trong thể mạn tính), nhạy cảm với ánh sáng (cháy, bỏng, xạm da sau khi tiếp xúc với ánh nắng), loét niêm mạc miệng, niêm mạc mũi, rụng tóc, viêm mao mạch dưới da…
+ Máu và cơ quan tạo máu: thiếu máu do viêm, thiếu máu huyết tán, chảy máu dưới da (do giảm tiểu cầu) , lách to, hạch to.
+ Thần kinh tâm thần: rối loạn tâm thần, động kinh...
+ Tuần hoàn, hô hấp: thường gặp các triệu chứng tràn dịch màng tim, màng phổi, tăng áp lực động mạch phổi, viêm phổi kẽ. Các triệu chứng hiếm gặp: viêm cơ tim, viêm nội tâm mạc , hội chứng Raynaud, viêm tắc động mạch, tĩnh mạch...
+ Thận: rất thường gặp: protein niệu, tế bào trụ niệu, hội chứng thận hư, viêm cầu thận...
+ Gan: cổ trướng, rối loạn chức năng gan (hiếm gặp).
+ Mắt: giảm tiết nước mắt (Hội chứng Sjogren), viêm giác mạc, viêm kết mạc, viêm võng mạc.

chan-doan-lupus-ban-do-he-thong
Chẩn đoán lupus ban đỏ hệ thống.



b) Cận lâm sàng

- Các xét nghiệm không đặc hiệu: tế bào máu ngoại vi (giảm hồng cầu, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu), tốc độ lắng máu tăng, điện di huyết thanh (ᵞ globulin tăng), tìm thấy phức hợp miễn dịch trong máu, phản ứng BW (+) giả…

- Các xét nghiệm đặc hiệu: kháng thể kháng nhân (ANA), kháng thể kháng Ds-DNA, Kháng thể chống các kháng nguyên hòa tan, kháng thể kháng hồng cầu, kháng Lympho bào, kháng tiểu cầu…, giảm bổ thể, giảm tỉ lệ Lympho bào so với tế bào B.

- Sinh thiết các cơ quan tổn thương:
+ Sinh thiết da: lắng đọng globulin miễn dịch IgM, IgG và bổ thể thành một lớp thượng bì và trung bì của da (+70%)
+ Thận: viêm cầu thận, dày màng đáy do lắng đọng IgG, IgM và bổ thể.
+ Màng hoạt dịch khớp: tổn thương gần tương tự viêm khớp dạng thấp.

c) Chẩn đoán xác định

Áp dụng tiêu chuẩn của Hội Thấp học Mỹ ACR 1982 (bổ sung và điều chỉnh năm 1997), gồm 11 yếu tố:

- Ban đỏ hình cánh bướm ở mặt

- Ban đỏ dạng đĩa ở mặt và thân

- Nhạy cảm với ánh sáng

- Loét miệng hoặc mũi họng

- Viêm khớp và đau khớp không có phá hủy khớp.

- Viêm đa màng: màng phổi, màng tim

- Tổn thương thận: protein niệu > 500mg/24 giờ hoặc 3+ (10 thông số nước tiểu) hoặc có trụ tế bào (hồng cầu, hemoglobin, trụ hạt, tế bào ống thận hoặc hỗn hợp)

- Tổn thương thần kinh: co giật hoặc các rối loạn tâm thần không do thuốc và các nguyên nhân khác như rối loạn điện giải, tăng urê máu, nhiễm toan ceton…

- Rối loạn về máu: (a). Thiếu máu huyết tán có tăng hồng cầu lưới, hoặc ( b). Giảm bạch cầu < 4.000/mm3, hoặc (c). Giảm bạch cầu lympho < 1.500/mm3, hoặc (d). Giảm tiểu cầu < 100.000/mm3 không do thuốc.

- Rối loạn về miễn dịch:
+ Kháng thể kháng Ds-DNA (+), hoặc
+ Kháng thể kháng Sm (+), hoặc
+ Kháng thể kháng phospholipids (+) căn cứ vào: tăng kháng thể kháng cardiolipin loại IgM hoặc IgG, lupus anticoagulant (+), test huyết thanh giang mai dương tính giả > 6 tháng có kiểm chứng test cố định Treponema Pallidum.

- Kháng thể kháng nhân: hiệu giá cao theo tiêu chuẩn của phòng xét nghiệm và không do sử dụng các thuốc trong danh mục gây ra hội chứng giả Lupus.

Chẩn đoán xác định khi có từ 4 yếu tố trở lên

KHOA DA LIỄU BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ THU CÚC
CHĂM SÓC CHO LÀN DA KHỎE ĐẸP
Địa chỉ: 286 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
Email: contact@thucuchospital.vn
Hotline: 0904 97 0909 - Gọi cấp cứu(24/24): 043 728 0888
Giờ làm việc: 8:00 đến 17:00 - Tất cả các ngày trong tuần

Các dạng bệnh lupus ban đỏ hệ thống.

Các loại lupus ban đỏ hệ thống:

Hồng ban hình cánh bướm

benh-lupus-ban-do-he-thong
Hồng ban hình cánh bướm.

Ban dạng đĩa

benh-lupus-ban-do-he-thong
Ban dạng đĩa.


• Thận: Những triệu chứng của thận thường gặp ở hơn 50% bệnh nhân bị lupus. Bệnh thận nặng thường cần phải sử dụng liệu pháp ức chế miễn dịch để điều trị. Tất cả những bệnh nhân bị lupus ban đỏ mới được phát hiện cần phải được kiểm tra nước tiểu xem có chứa hồng cầu và protein hay không vì viêm thận có thể không có triệu chứng vào những giai đoạn sớm.

• Tim mạch: Viêm màng ngoài tim (túi bao bên ngoài tim) là dạng tổn thương tim thường thấy ở những bệnh nhân lupus. Nó có thể gây đau ngực tương tự như những cơn đau tim. Ngoài ra, có thể hình thành cách mảng sùi ở các van tim gây ra những vấn đề về tim. Xơ vữa động mạch có thể dẫn đến đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim ở những bệnh nhân lupus do phải sử dụng corticoid trong một thời gian dài để điều trị bệnh của mình. Ở một số bệnh nhân lupus, máu động mạch cung cấp cho tay không liên tục do các động mạch bị co thắt, làm cho đầu ngón tay bị tím hay trắng bệch, hiện tượng này được gọi là hội chứng Raynaud. Nó xảy ra khi có những sự kiện tác động lên cảm xúc của bệnh nhân, xuất hiện các cơn đau hay nhiệt độ ngoài trời lạnh.

• Hệ thần kinh: Một số bệnh lý về não và thần kinh, và hội chứng tâm thần cấp tính xuất hiện ở 15% bệnh nhân bị lupus. Những rối loạn thần kinh có thể xảy ra bao gồm co giật, liệt, suy nhược cơ thể nặng, rối loạn tâm thần và đột quỵ. Viêm tủy sống ở bệnh nhân lupus rất nặng hiếm khi xảy ra nhưng có thể dẫn đến liệt. Suy nhược rất thường gặp ở những bệnh nhân lupus. Đôi khi nó trực tiếp do bệnh gây ra, nhưng cũng có thể là do những rối loạn cảm xúc khi phải đối phó với căn bệnh mạn tính này trong một thời gian dài hoặc do tác động của những thuốc được dùng để điều trị bệnh, đặc biệt là prednisone liều cao.

• Phổi: Hơn 50% bệnh nhân bị lupus bị một số dạng bệnh phổi. Viêm màng phổi là bệnh thường gặp nhất. Nó có thể gây ra tình trạng đau ngực, thở nhanh nông, có thể làm nhầm lẫn với tình trạng máu cục trong phổi hay nhiễm trùng phổi. Sự tích tụ dịch ở khoang màng phổi (khoảng trống giữa phổi và thành ngực) cũng có thể xảy ra và được gọi là tràn dịch màng phổi. Viêm phổi cũng có thể gặp ở những bệnh nhân lupus có sử dụng thuốc ức chế miễn dịch.

• Hệ miễn dịch và máu: Khoảng 50% bệnh nhân lupus bị thiếu máu (giảm số lượng hồng cầu) và hơn phân nửa trong số đó bị giảm tiểu cầu và giảm bạch cầu. Giảm tiểu cầu có thể gây chảy máu và thâm tím ở dưới da, nếu nặng hơn có thể gây xuất huyết nội. Một số bệnh nhân lupus có thể dẫn đến tình trạng hình thành cục máu đông trong tĩnh mạch (gây viêm tĩnh mạch) hoặc động mạch (gây đột quỵ hay những bệnh lý khác). Tình trạng này thường gặp nhất ở những bệnh nhân có một số tự kháng thể trong máu được gọi là các kháng thể kháng phospholipid. Những bệnh nhân này cần phải dùng thuốc tan huyết (thuốc kháng đông) trong một thời gian dài. Những phụ nữ có những tự kháng thể này có nguy cơ cao bị sẩy thai tự phát (không do yếu tố nào tác động).

• Hệ tiêu hóa: Một số bệnh nhân bị những vết loét không đau ở miệng và mũi tại một số thời điểm nào đó của bệnh. Đau bụng trong lupus có thể do viêm màng bụng, nhiễm trùng ruột hoặc do giảm lượng máu đến nuôi ruột do cục máu đông hoặc viêm các mạch máu đến ruột. Nếu bệnh nhân có nhiều dịch tự do trong bụng, lớp dịch này cũng có thể gây nhiễm trùng và đau dữ dội. Viêm gan cũng có thể xảy ra nhưng hiếm gặp.

• Mắt: Mắt hiếm khi bị ảnh hưởng bởi lupus, ngoại trừ võng mạc. Bệnh nhân lupus thường cần phải được khám mắt định kỳ bởi bác sĩ nhãn khoa nếu đang sử dụng thuốc sốt rét chloroquine hoặc hydroxycholoroquine.

KHOA DA LIỄU BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ THU CÚC
CHĂM SÓC CHO LÀN DA KHỎE ĐẸP
Địa chỉ: 286 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
Email: contact@thucuchospital.vn
Hotline: 0904 97 0909 - Gọi cấp cứu(24/24): 043 728 0888
Giờ làm việc: 8:00 đến 17:00 - Tất cả các ngày trong tuần